Tài liệu mới cập nhật

Happy_new_year.swf Images_314.jpg Diendanhaiduongcom19072_114.jpg Banner_201329.swf Thiep2013.jpg DEM_TRUNG_THU.swf FLASH1_CHAO_MUNG_NAM_HOC_MOI.swf Me_trong_giac_mo_conUudam.flv Gap_me_trong_mothuy_chi.mp3 XT0027LAR.jpg DMLACHONG2.swf Chuc_ngay_moi_vui_ve.swf Nho_cu_cai__bahungvioletvn.flv 1328684164_2.jpg 1328779942_4.jpg Tichchu.flv Chuvitxam.flv

Sắp xếp tài liệu

TÀI NGUYÊN NƠI GẶP GỠ

Hỗ trợ trực tuyến

Online >>

0 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • free counters

    Điều tra ý kiến

    Quý vị vui lòng cho "Nơi gặp gỡ" biết mình là:
    Giáo viên
    Sinh viên
    Học sinh
    Thành phần khác

    Trận Điện Biên Phủ

    Nhấn vào đây để tải về
    Hiển thị toàn màn hình
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Wikipedia&scvnlive.net
    Người gửi: Nguyễn Thị Bích Ngọc
    Ngày gửi: 01h:19' 25-04-2009
    Dung lượng: 202.0 KB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Trận Điện Biên Phủ

    Trận Điện Biên Phủ là trận đánh lớn nhất trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất diễn ra tại lòng chảo Mường Thanh, châu Điện Biên (nay là thành phố Điện Biên Phủ), tỉnh Lai Châu (hiện nay đã tách thành tỉnh Điện Biên) giữa quân đội Pháp và Quân đội Nhân dân Việt Nam. Đây là chiến thắng quân sự lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954 của Việt Nam.
    Trên phương diện quốc tế, trận này có một ý nghĩa rất lớn: lần đầu tiên quân đội của một nước thuộc địa châu Á đánh thắng bằng quân sự một quân đội của một cường quốc châu Âu. Trận Điện Biên Phủ đã đánh bại ý chí duy trì thuộc địa Đông Dương, các khu vực thuộc địa ở Châu Phi của Pháp và buộc nước này rút ra khỏi Đông Dương. Đến năm 1967, Pháp đã phải trao trả quyền độc lập cho tất cả các nước là thuộc địa của Pháp.
    Các kế hoạch của hai bên dẫn đến trận Điện Biên Phủ

    Đến cuối năm 1953, Chiến tranh Đông Dương đã kéo dài 8 năm, Pháp lâm vào thế bị động trên chiến trường, quân đội của chính phủ Hồ Chí Minh đã giải phóng nhiều khu vực rộng lớn ở Tây Nguyên, khu 5, các tỉnh Cao Bắc Lạng,..và nhiều khu vực ở đồng bằng Bắc bộ. Chính phủ Pháp muốn tìm một giải pháp hòa bình có thể chấp nhận được để chấm dứt cuộc chiến nhưng mặt khác họ muốn duy trì quyền lợi tại Đông Dương. Pháp bổ nhiệm tổng chỉ huy Henri Navarre sang Đông Dương tìm kiếm một chiến thắng quân sự quyết định để làm cơ sở cho một cuộc thảo luận hòa bình trên thế mạnh. Kế hoạch của bộ chỉ huy Pháp tại Đông Dương gồm hai bước:
    Bước thứ nhất: Thu đông 1953 và xuân 1954 giữ thế phòng ngự ở miền Bắc và thực hiện tấn công chiến lược tại miền Trung và miền Nam.
    Bước thứ hai: Chuyển từ phòng ngự sang tấn công chiến lược ở phía Bắc để tiêu diệt chủ lực của Việt Minh.
    Để thực hiện kế hoạch này Pháp cho tiến hành xây dựng và tập trung lực lượng cơ động lớn, mở rộng quân đội bản địa, càn quét bình định vùng kiểm soát. Thực hành tấn công chiến lược ở vùng Khu V., Navarre được nhà nước Pháp cấp thêm cho 9 tiểu đoàn tinh nhuệ. Viện trợ Mỹ tăng vọt, chiếm đại đa số chi phí chiến tranh.
    Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được ra đời án ngữ miền tây bắc Bắc Việt Nam, kiểm soát liên thông với Thượng Lào để làm bẫy nhử, thách thức quân chủ lực Việt Minh tấn công và, theo kế hoạch của Pháp, quân Việt Minh sẽ bị nghiền nát tại đó.
    Về phía Quân đội Nhân dân Việt Nam, kể từ sau năm 1950 nối thông biên giới với Trung Quốc, được sự viện trợ quân sự to lớn của Trung Quốc và Liên Xô, đã lớn mạnh rất nhiều, với các sư đoàn (đại đoàn) bộ binh và các trung đoàn pháo binh, công binh đã có kinh nghiệm đánh tiêu diệt cấp tiểu đoàn của quân Pháp trong phòng ngự kiên cố.
    Bộ chỉ huy Quân đội Nhân dân Việt Nam nhìn nhận trận Điện Biên Phủ như cơ hội đánh tiêu diệt lớn, tạo chiến thắng vang dội để từ đó chấm dứt kháng chiến trường kỳ, và đã chấp nhận thách thức của quân Pháp để tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đây là trận quyết chiến chiến lược của QĐNDVN.
    So sánh lực lượng các bên tham chiến:
    Quân đội Nhân dân Việt Nam:
    Lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam tham gia gồm 11 trung đoàn bộ binh thuộc các đại đoàn bộ binh (304, 308, 312, 316), 1 trung đoàn công binh, 1 trung đoàn pháo binh 105 ly (24 khẩu), 1 trung đoàn pháo binh 75 ly (24 khẩu) và súng cối 120 ly (16 khẩu), 1 trung đoàn cao xạ 24 khẩu 37 ly (367)(sau được tăng thêm một tiểu đoàn 12 khẩu) vốn là phối thuộc của đại đoàn công pháo 351 (công binh – pháo binh). Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh chiến dịch. Thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm tham mưu trưởng chiến dịch.

    huy
    Biên
    Trang
    Ghi chú
    
    Đại đoàn bộ binh 304 (thiếu) Danh hiệu: Vinh Quang Mật danh: Nam Định
    Chính uỷ: Tham mưu trưởng:Nam Long
    Trung đoàn bộ binh 9 Trung đoàn bộ binh 57
    
    
    
    Trung đoàn binh 9
    Thanh Tú
    Tiểu đoàn 353 Tiểu đoàn 375 Tiểu đoàn 400
    
    Tham gia từ đợt 3
    
    Trung đoàn
     
    Gửi ý kiến