Tài liệu mới cập nhật

Happy_new_year.swf Images_314.jpg Diendanhaiduongcom19072_114.jpg Banner_201329.swf Thiep2013.jpg DEM_TRUNG_THU.swf FLASH1_CHAO_MUNG_NAM_HOC_MOI.swf Me_trong_giac_mo_conUudam.flv Gap_me_trong_mothuy_chi.mp3 XT0027LAR.jpg DMLACHONG2.swf Chuc_ngay_moi_vui_ve.swf Nho_cu_cai__bahungvioletvn.flv 1328684164_2.jpg 1328779942_4.jpg Tichchu.flv Chuvitxam.flv

Sắp xếp tài liệu

TÀI NGUYÊN NƠI GẶP GỠ

Hỗ trợ trực tuyến

Online >>

0 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • free counters

    Điều tra ý kiến

    Quý vị vui lòng cho "Nơi gặp gỡ" biết mình là:
    Giáo viên
    Sinh viên
    Học sinh
    Thành phần khác

    Gốc > Tư liệu tác giả-tác phẩm >

    HUY CẬN NÓI VỀ BÀI THƠ ‘Các vị La Hán chùa Tây Phương’

     

    Các vị La Hán chùa Tây Phương là một sáng tác có giá trị của Huy Cận. Bài thơ vừa mang cảm hứng lịch sử vừa mang ý nghĩa hiện đại. Huy Cận đã tạo được sự hoà hợp giữa chất suy tưởng và cảm xúc thi ca. Bài thơ được học trong chương trình lớp 12. Chúng tôi đã gặp nhà thơ Huy Cận và nhờ nói rõ một số điểm về quá trình sáng tác bài thơ.

     -        Xin anh cho biết hoàn cảnh sáng tác bài thơ "Các vị La Hán chùa Tây Phương"?

    -         Huy Cận: Năm 1940 lần đầu tiên tôi đi thăm chùa Tây Phương, lúc đó tôi đang học Đại học Canh nông ở Hà Nội. Cùng đi với tôi có Nguyễn Đõ Cung và những người khác. Khi xem, tôi có nhiều ấn tượngvà xúc động. Các vị La Hán cũn có ở chùa chiền Trung Quốc, Nhật Bản, nhưng các vị La Hán ở chùa Tây Phương có những nét riêng độc đáo, rất gần với đời, với những hình ảnh quen thuộc trong đời sống dân tộc. La Hán là những vị tu gần thành Phật, nhưng tôi thấy đây là những hình ảnh của cha ông và toàn là những hình ảnh đau khổ; tất nhiên không phải tất cả đều đau khổ nhưng ấn tượng chung là như vậy. Tôi về ghi trong sổ tay mấy câu: “Các vị La Hán chùa Tây Phương nỗi đau khổ của cha ông” nhưng không làm được bài thơ mặc dầu đã có những ý thơ đó.

    Năm 1960, tôi học trường Nguyễn Ái Quốc (từ 1-1960 đến 6-1961). Ngày 28 - 2 – 1960 tôi đi thăm chùa Tây Phương cùng mấy chuyên gia Trung Quốc. Bóng dáng của ông cha ta ít nhiều đã phản ánh được thời đại lúc đó. Các vị La Hán ở Trung Quốc cũng rất đẹp, công phu nhưng “khí thế đằng đằng” khác với các vị La Hán đau khổ, gầy guộc nhưng rất có thần của ta. Buổi tối về tôi viết một mạch 15 đoạn. Đây không phải là tác phẩm bàn luận về Phật giáo mà chỉ là sự thể hiện một cách cảm nhận và suy nghĩ về quá khứ của lịch sử dân tộc.

    Bài thơ có ý từ năm 1940 nhưng mãi năm 1960 mới viết được vì viết về nỗi đau khổ của cha ông thì dễ (ví dụ nỗi buồn trong Nhạc sầu) nhưng cái khó là chỉ ra được lối thoát. Cũng như bài Trò chuyện với Kim TựTtháp tôi viết được ngay trên máy bay vì có hướng ra. Tôi suy nghĩ về những ngôi mộ cổ theo hướng không thắng được cái chết bằng cái chết, chỉ có sự sống mới thắng được cái chết. Đến năm 1960 khi xã hội bước sang thời kỳ mới, giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, tôi thấy có ánh sáng để viết bài thơ này. Nỗi đau khổ của cha ông phải có nhận thức mới của tư tưởng xã hội chủ nghĩa, đó không phải là kết luận, kết thúc nhưng đó là triển vọng của cuộc đời.

         
    -         Xin anh cho biết nghệ thuật miêu tả trong bài thơ này, đặc biệt nghệ thuật miêu tả các pho tượng La Hán?

    -         Huy Cận: Bí quyết của nghệ thuật miêu tả trong bài thơ này là tôi không chỉ ra cái vật chất của tượng, không chỉ ra nét điêu khắc, tả chất gỗ, sơn của tượng mà kết hợp tả tâm hồn của mấy ông tượng. Hồn của các La Hán kết hợp hài hòa với nét mặt, dáng người:

    Đây vị xương trần chân với tay

    Có chi thiêu đốt tấm thân gầy

    Trầm ngâm đau khổ sâu vòm mắt

    Tự bấy ngồi y cho đến nay

    Thiêu đốt là ngọn lửa của tâm hồn nhưng là ngọn lửa đau khổ. Tâm hồn và thể xác kết hợp trong mỗi câu thơ, tâm hồn thể hiện qua thân xác và thân xác thể hiện trong mỗi tâm hồn:

    Môi cong chua chát tâm hồn héo

    Gân vặn bàn tay mạch máu sôi

    Môi cong chua chát là tình cảm, tư tưởng, Gân vặn bàn tay mạch máu sôi là trạng thái cảm xúc, là tâm hồn. Dường như mỗi câu thơ diễn tả cả thể xác lẫn tâm hồn. Tôi tả các vị La Hán rất tạo hình bởi lẽ tôi yêu mĩ thuật và được xem nhiều bảo tàng trên thế giới: Trung Quốc, Nhật Bản và nhiều nước phương Tây. Tôi cũng quen thân với nhiều nhà mĩ thuật. Tôi thân với Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Đỗ Cung, Trần Văn Cẩn. Từ trước cách mạng tháng tám Tô Ngọc Vân đã trình bày tác phẩm Lửa Thiêng của tôi. Tôi làm nhiều bài thơ về mĩ thuật như Cô thợ gốm,Xem tranh Tề Bạch Thạch. Tôi có bài thơ ca ngợi Rô đanh (Rôdin) về tác phẩm Mùa xuân vĩnh viễn. Trong thơ tôi không bao giờ chỉ tả cảnh ở ngoài, chẳng hạn trong bài thơ Tràng Giang:

    Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp

    Con thuyền xuôi mái nước song song

    Không chỉ đơn thuần tả dòng sông mà còn là sự  cô đơn của kiếp người. Tôi mượn cảnh để nói tâm hồn. Như ở đây tả các vị La Hán là tả tâm hồn. Tả tâm hồn nhưng tâm hồn phải đầu thai vào một hình ảnh, nghĩa là xác – hồn phải quyện vào nhau trong một hình ảnh thống nhất và được thể hiện qua hình thể và từng ý thơ. Đó là quy luật của nghệ thuật. Khi Nguyễn Du miêu tả tình cảm cũng phải đưa tình cảm vào khung cảnh cụ thể:

    Động phòng dìu dặt chén mời

    Bâng khuâng duyên mới ngậm ngùi tình xưa

    Trong bài thơ Áo trắng của tôi, tôi bộc lộ tình cảm với người con gái thân yêu cũng phải qua những yếu tố cụ thể:

    Em đẹp bàn tay ngón ngón thon

    Em duyên đôi má nắng hoe tròn

    Em lùa gió biếc vào trong tóc

    Thổi lại phòng anh cả núi non

    (Áo trắng)

    Trong những tượng La Hán được miêu tả tôi rất chú ý đến sự kết hợp giữa tư tưởng và hình ảnh. Phải chọn hình ảnh hợp lý. Ngay hình ảnh “Chiếc thai non” không phải chỉ muốn nói tới dáng dấp mà muốn nói kiếp người luân hội. Theo quan niệm của đạo Phật, con người chết đi ở kiếp này rồi lại sinh ra ở kiếp khác, cứ quay vòng luân chuyển mãi như vậy trong trần gian bể khổ. Các vị La Hán rất đời, thông cảm việc đời mặc dù như bị ngăn cách ở một phạm vi không gian khác:

    Các vị ngồi đây trong lặng yên

    Mà nghe giông bão nổ trăm miền

    -         Xin anh cho biết bốn phương, tám hướng và nội dung câu hỏi lớn đặt ra trong bài thơ?

    -         Huy Cận: Tám hướng là theo ý đạo Phật (tám phương trời, mười phương Phật – đó là chữ trong dân gian). Quay theo tám hướng là quay khắp cuộc đời, nghĩa là đi tìm câu trả lời ở khắp phương trời nhưng không tìm được. Một câu hỏi lớn là gì? Tác giả không nói rõ nhưng ai cũng thấy rõ đó là câu hỏi về ý nghĩa cuộc đời. Kết thúc cuộc đời là gì? Câu hỏi lớn đó gồm nhiều câu hỏi. Người ta thường hay hỏi ý nghĩa của nhân sinh. Các pho tượng này diễn tả những vị tu hành đang trên đường tu tới Phật, trong hình hài và trên nét mặt vẫn mang những khổ đau quằn quại, như muốn trút bỏ mọi dục vọng và cảm giác để đạt đến sự tịch diệt, sự thanh thản yên tĩnh vĩnh hằng của cõi Phật. Tôi không đồng tình với quan điểm diệt dục, dục ở đây là ước muốn, là đam mê. Câu hỏi này mang ý nghĩa của nhân sinh, xoá bỏ mọi đam mê, ước muốn thì cuộc đời có ý nghĩa gì không?

    Cơ đốc giáo cũng đặt ra những câu hỏi: Con người từ đâu đến, con người đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? Con người từ đâu đến? Con người do Chúa sinh ra. Con người đang ở đâu? Đang ở trong cuộc đời đau khổ. Và cũng sẽ đi đến đâu? Thiên đường sẽ là miền đất hứa xa xôi và tin cậy.

    -         Bài thơ viết về các pho tượng La Hán ở thế kỷ XVIII. Xin anh cho biết cảm hứng về thế kỷ này được miêu tả trong thơ.

    -         Huy Cận: Thế kỷ XVIII là thế kỷ lớn, thế kỷ của nhiều biến động lịch sử, thế kỷ của nông dân khởi nghĩa nhưng cũng là thế kỷ đau buồn. Đặc biệt ở vào cuối thế kỷ khi Quang Trung mất, cha ông mất hướng và cũng có thể xem là thế kỷ mất hướng. Lẽ ra thế kỷ XVIII có nhiều hy vọng, “Bao nhiêu hy vọng thúc bên sườn”, nhưng niềm hy vọng sớm vụt tắt:

    Hoàng hôn thế kỷ phủ bao la

    Sờ soạng cha ông tìm lối ra

    Cha ông mất hướng, tôi dùng từ “khói ám, sương tà” là những từ ngữ rất đạt trong văn cảnh này. Cảm xúc của tôi gần gũi với nỗi niềm củalịch sử cha ông. Và bài thơ đó đã tìm được lối ra trong cuộc sống hôm nay…

    “Xoa bóng hoàng hôn tản khói sương”

    Có nghĩa là khói sương đã tan biến hết, ở đây chất triết lý rất đậm nét. Trong thơ xây dựng chủ nghĩa xã hội thì đây là một trong những bài thơ mà tôi thích nhất vì đã nói lên được nỗi lòng của Huy Cận đối với cha ông, với dân tộc, khẳng định chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa nhân văn.

    HÀ MINH ĐỨC ghi

    (nguồn: vannghequandoi.com.vn)


    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Thị Thoa @ 11:14 06/05/2009
    Số lượt xem: 935
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến