Gốc > Chia sẻ kinh nghiệm >

GS nhà giáo Lê Khánh Bằng được nhiều người biết không chỉ là nhà phương pháp trong giáo dục học mà còn biết đến bởi sự uyên bác vì ông có thể giảng bài bằng 6 thứ tiếng khác nhau: Anh, Pháp, La Tinh, Nga, Trung Quốc, Bồ Đào Nha. Điều đáng nói là 6 thứ tiếng này phần lớn do GS tự học. Có được vốn ngoại ngữ nhiều như vậy chính là nhờ biết cách học có phương pháp. Vậy những phương pháp đó là gì? Thiền – đây là một phương pháp dưỡng sinh cổ điển của Ấn Độ, đặc trưng bởi “tập trung tư tưởng” khong cho tạp niệm xen vào trong quá trình học. Thiền ở đây chỉ được sử dụng ở phương diện là một phương pháp để phát huy năng lực của người học.
“THIỀN” là gì? “Thiền” là một quá trình tu luyện gồm những biện pháp thể dục tâm lý, từ gốc là Yoga, được một trường phái phật giáo Trung Quốc kết hợp với phương pháp của đạo lão áp dụng sau đó truyền sang Việt Nam, Nhật Bản và ngày nay cũng được một số người Châu Mỹ vận dụng. Khi thiền ta phải ổn định hoạt động tâm thể bằng điều hoà hơi thở, trên cơ sở ấy, tập trung ý nghĩ vào những bộ phận nào đó của cơ thể, hoặc những giáo lý cơ bản, những vấn đề mình quan tâm. Khi thiền con người phải hết sức tập trung, làm cho các kích thích bên ngoài không xen vào được, toàn tâm tập trung vào một ý. Đây là một kỹ thuật điều khiển tinh thần, giúp con người sử dụng bộ não triệt để, động viên được những năng lực tiềm ẩn. Có thể về mặt cơ chế, thiền là tập trung tư tưởng cao độ vào một vấn đề hay một công việc nhất định.
Thiền có thể quy ước phân làm 2 loại: thiền tĩnh và thiền động.
Tĩnh là ngồi yên (có thể nhắm mắt hay mở mắt), tập trung suy nghĩ vào hơi thở (thở sâu, êm, nhẹ) hoặc vào một vấn đề nào đó (bài học).
Động là tập trung suy nghĩ vào một vấn đề nào đó (một chủ đề, một công việc), đồng thời có thể dùng các động tác để thể hiện vấn đề đó, như viết, nói, cử động chân tay.
VẬN DỤNG THIỀN ĐỂ TẠO NÊN MỘT VÙNG NGOẠI NGỮ TRONG VỎ NÃO
Phương pháp học ngoại ngữ bằng Thiền đã được giáo sư Lê Khánh Bằng tổng hợp lại với những công thức gồm: 3T, 5B, 5C, 2H và 3V.
3T là tập trung gồm: 1.Thiền sự tập trung tư tưởng cao độ. 2. Tần số nhắc lại. 3. Tốc độ nhanh như người bản địa, có thể đọc một bài dài trong thời gian ngắn.
5B là 5 bước chuyển vào trong và 5 bước chuyển ra ngoài. Trong đó, 5 bước chuyển vào trong bao gồm:
Bước 1: đọc thật to để tạo nên một khu vực hưng phấn mạnh trong vỏ não và nhằm góp phần làm ức chế vùng tiếng mẹ đẻ. Đọc to, đúng như vậy từ 3 – 5 lần.
Bước 2: đọc to vừa, đúng ngữ điệu, tốc độ có thể nhanh dần lên. Đọc to vừa 3 – 5 lần hoặc hơn.
Bước 3: đọc mấp máy môi, có âm thanh và ngữ điệu phát ra nho nhỏ. Đọc 3 – 5 lần, tốc độ nhanh nhất có thể.
Bước 4: Đọc trong óc, còn gọi là đọc liếc hay đọc thầm. Lúc này môi không mấp máy, âm thanh không phát ra, nhưng bản thân người đọc vẫn cảm thấy âm thanh và ngữ điệu vang lên trong óc. Đọc như vậy nhiều lần, có thể từ 10 đến 100 lần, cho đến khi đọc thuộc lòng hẳn.
Bước 5: Đọc thuộc lòng trong óc nhiều lần( không nhìn vào bảng chữ cái như trong bước 4) để khắc sâu vào vỏ não.
5 bước chuyển vào trong bao gồm:
Bước 1: Đọc trong óc.
Bước 2: Đọc mấp máy môi.
Bước 3: Đọc to vừa.
Bước 4: Đọc to.
Bước 5: Vừa đọc vừa viết nhanh lên giấy.
5C là chất lượng đạt 5 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và suy nghĩ bằng ngoại ngữ. 2H là hiệu quả của việc học ngoại ngữ phải đáp ứng được các yêu cầu của nền kinh tế xã hội và sử dụng tốt các nguồn lực.
Cuối cùng là 3V tương ứng với 3 vùng ngoại ngữ cơ bản, từ tối thiểu, phổ thông đến chuyên ngành. Đó là những nội dung cốt lõi và chủ đạo mà người thầy già muốn gửi gắm trong cuốn sách này.
Khi đã có vùng ngoại ngữ trong đầu, người học có thể duy trì nó và dễ dàng tiếp nhận thêm những ngoại ngữ khác. Khái quát lại như GS Bằng nói: “đột phá một điểm, khai thông toàn diện. Với phương pháp này không chỉ giúp chúng ta vận dụng vào dạy và học ngoại ngữ mà còn học tốt các môn khoa học khác”.
HỌC - MỘT KHÁI NIỆM “TỰ HỢP ĐỒNG” VÀ “RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SUY NGHĨ BẰNG NGOẠI NGỮ”
Cũng theo GS Lê Khánh Bằng, đối với việc dạy và học hiện nay phải thống nhất một khái niệm: thày với trò là bạn, người học được xem là trung tâm và học theo cách tự hợp đồng. Đây là sự giao ước của chính bản thân người học. Hợp đồng dài hạn thì tuân thủ theo đúng bản thiết kế của quá trình tự học. Hợp đồng ngắn hạn tuân thủ đúng các mục tiêu đề ra như thuộc bài khoá trong bao lâu, tốc độ đạt được… Người học phải tự nhắc nhở mình, tự kiểm tra và đánh giá. Ở đây thày giáo chỉ đóng vai trò người hướng dẫn còn về phương pháp lĩnh hội và tạo điều kiện hiệu quả là do người học quyết định. Chính vì thế, không ít người đặt câu hỏi: Tại sao mình học ngoại ngữ rất chăm chỉ miệt mài trong 2, 3 năm mà kết quả không cao? Phải chăng học ngoại ngữ được phải có năng khiếu? Thực ra không hoàn toàn như vậy. Mấu chốt của vấn đề là học phải có phương pháp, không chỉ riêng việc học ngoại ngữ mà cả các môn khác. Nếu có phương pháp đúng sẽ giúp người học nhận thức nhanh hơn và nhớ lâu hơn. Với học ngoại ngữ, trước hết người học phải có khả năng suy nghĩ bằng ngoại ngữ. Suy nghĩ bằng ngoại ngữ là năng lực hình dung được ngoại ngữ đó trong đầu mà không phải trải qua giai đoạn lịch sử tiếng mẹ đẻ. Không có khả năng này, người học khi học phải chuyển từ tiếng nước ngoài sang tiếng mẹ đẻ mới hiểu (nghe), rồi mới có thể trả lời bằng tiếng mẹ đẻ, sau lại dịch ra tiếng nước ngoài để trả lời. Việc đó vừa chậm vừa làm giảm khả năng sử dụng ngoại ngữ như một công cụ giao tiếp. GS Lê Khánh Bằng đã khái quát hoá quá trình học ngoại ngữ bằng một sơ đồ công thức: 3T, 5B, 5C, 2H, 3V. (3T là thiền, tần số và tốc độ; 5B là 5 bước chuyển vào trong và ngược lại; 5C là 5 chỉ tiêu của chất lượng học ngoại ngữ: nghe, nói, đọc, viết, suy nghĩ bằng ngoại ngữ; 2H là 2 chỉ tiêu của hiệu quả; 3V là 3 vùng ngoại ngữ: tối thiểu, cơ bản và chuyên ngành). Để biến tất cả những yêu cầu phương pháp thành hiện thực thì quá trình tự học vẫn là then chốt của thành công.
Vũ Bá Hùng @ 18:10 23/04/2009
Số lượt xem: 889
GIÁO SƯ LÊ KHÁNH BẰNG VỚI PHƯƠNG PHÁP HỌC NGOẠI NGỮ BẰNG “THIỀN”

GS nhà giáo Lê Khánh Bằng được nhiều người biết không chỉ là nhà phương pháp trong giáo dục học mà còn biết đến bởi sự uyên bác vì ông có thể giảng bài bằng 6 thứ tiếng khác nhau: Anh, Pháp, La Tinh, Nga, Trung Quốc, Bồ Đào Nha. Điều đáng nói là 6 thứ tiếng này phần lớn do GS tự học. Có được vốn ngoại ngữ nhiều như vậy chính là nhờ biết cách học có phương pháp. Vậy những phương pháp đó là gì? Thiền – đây là một phương pháp dưỡng sinh cổ điển của Ấn Độ, đặc trưng bởi “tập trung tư tưởng” khong cho tạp niệm xen vào trong quá trình học. Thiền ở đây chỉ được sử dụng ở phương diện là một phương pháp để phát huy năng lực của người học.
“THIỀN” là gì? “Thiền” là một quá trình tu luyện gồm những biện pháp thể dục tâm lý, từ gốc là Yoga, được một trường phái phật giáo Trung Quốc kết hợp với phương pháp của đạo lão áp dụng sau đó truyền sang Việt Nam, Nhật Bản và ngày nay cũng được một số người Châu Mỹ vận dụng. Khi thiền ta phải ổn định hoạt động tâm thể bằng điều hoà hơi thở, trên cơ sở ấy, tập trung ý nghĩ vào những bộ phận nào đó của cơ thể, hoặc những giáo lý cơ bản, những vấn đề mình quan tâm. Khi thiền con người phải hết sức tập trung, làm cho các kích thích bên ngoài không xen vào được, toàn tâm tập trung vào một ý. Đây là một kỹ thuật điều khiển tinh thần, giúp con người sử dụng bộ não triệt để, động viên được những năng lực tiềm ẩn. Có thể về mặt cơ chế, thiền là tập trung tư tưởng cao độ vào một vấn đề hay một công việc nhất định.
Thiền có thể quy ước phân làm 2 loại: thiền tĩnh và thiền động.
Tĩnh là ngồi yên (có thể nhắm mắt hay mở mắt), tập trung suy nghĩ vào hơi thở (thở sâu, êm, nhẹ) hoặc vào một vấn đề nào đó (bài học).
Động là tập trung suy nghĩ vào một vấn đề nào đó (một chủ đề, một công việc), đồng thời có thể dùng các động tác để thể hiện vấn đề đó, như viết, nói, cử động chân tay.
VẬN DỤNG THIỀN ĐỂ TẠO NÊN MỘT VÙNG NGOẠI NGỮ TRONG VỎ NÃO
Phương pháp học ngoại ngữ bằng Thiền đã được giáo sư Lê Khánh Bằng tổng hợp lại với những công thức gồm: 3T, 5B, 5C, 2H và 3V.
3T là tập trung gồm: 1.Thiền sự tập trung tư tưởng cao độ. 2. Tần số nhắc lại. 3. Tốc độ nhanh như người bản địa, có thể đọc một bài dài trong thời gian ngắn.
5B là 5 bước chuyển vào trong và 5 bước chuyển ra ngoài. Trong đó, 5 bước chuyển vào trong bao gồm:
Bước 1: đọc thật to để tạo nên một khu vực hưng phấn mạnh trong vỏ não và nhằm góp phần làm ức chế vùng tiếng mẹ đẻ. Đọc to, đúng như vậy từ 3 – 5 lần.
Bước 2: đọc to vừa, đúng ngữ điệu, tốc độ có thể nhanh dần lên. Đọc to vừa 3 – 5 lần hoặc hơn.
Bước 3: đọc mấp máy môi, có âm thanh và ngữ điệu phát ra nho nhỏ. Đọc 3 – 5 lần, tốc độ nhanh nhất có thể.
Bước 4: Đọc trong óc, còn gọi là đọc liếc hay đọc thầm. Lúc này môi không mấp máy, âm thanh không phát ra, nhưng bản thân người đọc vẫn cảm thấy âm thanh và ngữ điệu vang lên trong óc. Đọc như vậy nhiều lần, có thể từ 10 đến 100 lần, cho đến khi đọc thuộc lòng hẳn.
Bước 5: Đọc thuộc lòng trong óc nhiều lần( không nhìn vào bảng chữ cái như trong bước 4) để khắc sâu vào vỏ não.
5 bước chuyển vào trong bao gồm:
Bước 1: Đọc trong óc.
Bước 2: Đọc mấp máy môi.
Bước 3: Đọc to vừa.
Bước 4: Đọc to.
Bước 5: Vừa đọc vừa viết nhanh lên giấy.
5C là chất lượng đạt 5 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và suy nghĩ bằng ngoại ngữ. 2H là hiệu quả của việc học ngoại ngữ phải đáp ứng được các yêu cầu của nền kinh tế xã hội và sử dụng tốt các nguồn lực.
Cuối cùng là 3V tương ứng với 3 vùng ngoại ngữ cơ bản, từ tối thiểu, phổ thông đến chuyên ngành. Đó là những nội dung cốt lõi và chủ đạo mà người thầy già muốn gửi gắm trong cuốn sách này.
Khi đã có vùng ngoại ngữ trong đầu, người học có thể duy trì nó và dễ dàng tiếp nhận thêm những ngoại ngữ khác. Khái quát lại như GS Bằng nói: “đột phá một điểm, khai thông toàn diện. Với phương pháp này không chỉ giúp chúng ta vận dụng vào dạy và học ngoại ngữ mà còn học tốt các môn khoa học khác”.
HỌC - MỘT KHÁI NIỆM “TỰ HỢP ĐỒNG” VÀ “RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SUY NGHĨ BẰNG NGOẠI NGỮ”
Cũng theo GS Lê Khánh Bằng, đối với việc dạy và học hiện nay phải thống nhất một khái niệm: thày với trò là bạn, người học được xem là trung tâm và học theo cách tự hợp đồng. Đây là sự giao ước của chính bản thân người học. Hợp đồng dài hạn thì tuân thủ theo đúng bản thiết kế của quá trình tự học. Hợp đồng ngắn hạn tuân thủ đúng các mục tiêu đề ra như thuộc bài khoá trong bao lâu, tốc độ đạt được… Người học phải tự nhắc nhở mình, tự kiểm tra và đánh giá. Ở đây thày giáo chỉ đóng vai trò người hướng dẫn còn về phương pháp lĩnh hội và tạo điều kiện hiệu quả là do người học quyết định. Chính vì thế, không ít người đặt câu hỏi: Tại sao mình học ngoại ngữ rất chăm chỉ miệt mài trong 2, 3 năm mà kết quả không cao? Phải chăng học ngoại ngữ được phải có năng khiếu? Thực ra không hoàn toàn như vậy. Mấu chốt của vấn đề là học phải có phương pháp, không chỉ riêng việc học ngoại ngữ mà cả các môn khác. Nếu có phương pháp đúng sẽ giúp người học nhận thức nhanh hơn và nhớ lâu hơn. Với học ngoại ngữ, trước hết người học phải có khả năng suy nghĩ bằng ngoại ngữ. Suy nghĩ bằng ngoại ngữ là năng lực hình dung được ngoại ngữ đó trong đầu mà không phải trải qua giai đoạn lịch sử tiếng mẹ đẻ. Không có khả năng này, người học khi học phải chuyển từ tiếng nước ngoài sang tiếng mẹ đẻ mới hiểu (nghe), rồi mới có thể trả lời bằng tiếng mẹ đẻ, sau lại dịch ra tiếng nước ngoài để trả lời. Việc đó vừa chậm vừa làm giảm khả năng sử dụng ngoại ngữ như một công cụ giao tiếp. GS Lê Khánh Bằng đã khái quát hoá quá trình học ngoại ngữ bằng một sơ đồ công thức: 3T, 5B, 5C, 2H, 3V. (3T là thiền, tần số và tốc độ; 5B là 5 bước chuyển vào trong và ngược lại; 5C là 5 chỉ tiêu của chất lượng học ngoại ngữ: nghe, nói, đọc, viết, suy nghĩ bằng ngoại ngữ; 2H là 2 chỉ tiêu của hiệu quả; 3V là 3 vùng ngoại ngữ: tối thiểu, cơ bản và chuyên ngành). Để biến tất cả những yêu cầu phương pháp thành hiện thực thì quá trình tự học vẫn là then chốt của thành công.
(Sưu tầm)
Vũ Bá Hùng @ 18:10 23/04/2009
Số lượt xem: 889
Số lượt thích:
0 người
 
Ý kiến mới