Giá trị nhân văn cao cả trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta và muôn đời con cháu mai sau là một văn kiện lịch sử, một di sản tinh thần vô giá, kết tinh những tinh hoa đạo đức và tâm hồn cao đẹp của Người. Di chúc là tác phẩm kết tinh những nội dung cơ bản, những quan điểm cốt yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh, vạch ra phương hướng phát triển cho cách mạng Việt Nam cả hôm nay và mai sau. Nổi bật lên trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là giá trị nhân văn cao cả - một giá trị vĩnh hằng làm sáng mãi tư tưởng và nhân cách vĩ đại của Người trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế.
1. Bản Di chúc đã thể hiện rõ quan điểm về con người và vì con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cái làm nên giá trị tinh thần lớn lao và mang ý nghĩa cải tạo thực tiễn sâu sắc là quan điểm vì con người và giải phóng con người thấm đượm chủ nghĩa nhân đạo cao cả, một triết lý nhân sinh mà Người đã dày công xác lập. Đây là tư tưởng nhất quán gắn liền với hoạt động thực tiễn không mệt mỏi trong suốt sự nghiệp hoạt động cách mạng của Người.
Tư tưởng nhân văn cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trong Di chúc trước hết là sự cảm thông, tình yêu thương sâu sắc đối với nhân dân. Người viết những dòng Di chúc chứa chan tình cảm: "Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh". Những dòng di chúc trên còn nói lên sự day dứt khôn nguôi của một tâm hồn luôn hướng về dân, lo cho dân. Ham muốn tột bậc của Hồ Chí Minh suốt cuộc đời là làm sao cho nước nhà được độc lập, nhân dân được tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Người từng nói: Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì"[1]. Biết mình sắp đi xa trong khi sự nghiệp cách mạng tất cả vì con người chưa đến thắng lợi cuối cùng, chưa hoàn thành được những nhiệm vụ, mục tiêu như Người hằng mong muốn, Người đã nhắc nhở chúng ta phải tiếp tục quan tâm đến sự nghiệp giải phóng nhân dân lao động. Từ đó, Hồ Chí Minh khẳng định những truyền thống, những đức tính tốt đẹp của nhân dân
Việt Nam: "Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng". Quán triệt những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, xuyên suốt tư tưởng nhân văn cũng như quá trình hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn luôn đề cao vai trò quyết định của quần chúng nhân dân đối với sự thành công của mọi cuộc chuyển biến cách mạng. Người đề cao những truyền thống quý báu của dân tộc, những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân Việt Nam mà nỗi bật là chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết, cố kết cộng đồng, tinh thần anh hung cách mạng, đức tính cần cù, sáng tạo, thông minh trong sản xuất và chiến đấu. Người đã có chiến lược phát huy sức mạnh tinh thần to lớn đó vào sự nghiệp cách mạng, đưa cách mạng đi từ những thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn phải có một chính sách đặc biệt, cụ thể, thiết thực đối với mọi tầng lớp nhân dân đã vì Tổ Quốc mà hy sinh: Theo người, đó là công việc nhất thiết phải làm, dẫu khó khăn, phức tạp đến mấy cũng phải ra sức làm. Người chỉ rõ:
"Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc, chúng ta phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, phải mở những lớp dạy nghề thích hợp cho họ, để họ có được hành trang cần thiết bước vào cuộc sống tự lập, tự lực cánh sinh...
Đối với liệt sĩ, cần xây dựng vườn hoa và bia tưởng niệm...
Đối với cha mẹ, vợ con của thương binh liệt sĩ thiếu sức lao động và túng thiếu thì phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp...
Đối với phụ nữ, Đảng và Chính phủ phải có kế hoặc thiết thực để bồi dưỡng, cân nhắc và giúp đỡ..., bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên..."
Thấm nhuần đạo lý truyền thống của người Việt Nam "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây", Người đề nghị miễn thuế nông nghiệp một năm cho nông dân để đồng bào thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất, sau nhiều năm liên tục đã ra sức góp của, góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho Tổ Quốc.
Ngay cả đối với những người Việt Nam lầm lỡ, trước đây làm việc cho chế độ cũ hoặc không lương thiện trong chế độ xã hội cũ, Hồ Chí Minh chỉ gọi họ là "nạn nhân của chế độ xã hội cũ" và nhắc nhở Đảng, Nhà nước phải quan tâm đến họ, hướng thiện và hướng nghiệp cho họ theo tinh thần "đánh người chạy di chứ không đánh người chạy lại: "Đối với nạn nhân của chế độ xã hội cũ, Nhà nước phải vừa dùng giáo dục vừa dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện". Đó cũng chính là truyền thống khoan dung, triết lý khoan dung của dân tộc Việt Nam mà Hồ Chí Minh đã kế thừa và khắc sâu thêm vào tâm khảm mỗi người chúng ta:
Người không chỉ quan tâm đến đời sống nhân dân, mà trên hết là chăm lo giáo dục, đào tạo họ, làm cho họ trở thành lực lượng nòng cốt xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Người yêu cầu chúng ta sửa đổi chế độ giáo dục cho phù hợp với hoàn cảnh mới, đặc biệt là chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng, giáo dục tinh thần yêu nước cho đoàn viên và thanh niên, đào tạo họ trở thành những người kế thừa xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa "hồng" vừa "chuyên".
Triết lý nhân sinh của Người là sự gắn kết giữa chủ nghĩa nhân đạo cao cả với tư tưởng nhân văn sâu sắc. Cội nguồn của chủ nghĩa nhân đạo và tư tưởng nhân văn ấy là truyền thống nhân ái của dân tộc Việt Nam kết hợp với truyền thống nhân ái của nhân loại. Nội dung cốt lõi của chủ nghĩa nhân đạo và tư tưởng nhân văn ấy là lòng thương yêu, quý trọng con người gắn với lòng yêu nước, yêu dân nồng nàn. Mục tiêu cao cả của chủ nghĩa nhân đạo và tư tưởng nhân văn ấy là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.
Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh thể hiện trong Di chúc là chủ nghĩa nhân văn cách mạng sáng ngời
2. Bao trùm nhất, quan trọng nhất trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh được thể hiện trong Di chúc là sự quan tâm đến người cộng sản, đến công tác xây dựng Đảng.
Đây thực sự là nét độc đáo trong tư tưởng nhân văn của Người. Tháng 5/1968, khi bổ sung vào bản Di chúc đã khởi thảo từ năm 1965, Người viết "Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng". Quan tâm đến Đảng đầu tiên, hướng đến việc hoàn thiện công việc lãnh đạo của Đảng, Người đặc biệt nêu lên ý nghĩa nhân văn trong việc Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành với nhân dân.
Xã hội mới theo hướng lấy con người làm trung tâm ở nước ta trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Lý tưởng của Đảng Cộng sản là chống áp bức, bóc lột, mang những giá trị chân chính của con người trả lại cho con người. Bản chất của xã hội lấy con người làm trung tâm hoà quyện và thống nhất với mục đích lý tưởng của Đảng. Với lý tưởng cách mạng tiên tiến và đạo đức cao đẹp, nhân cách người cộng sản phải trở thành biểu tượng trung tâm của xã hội mới. Đó là những con người biết đặt lợi ích của Đảng của nhân dân lên trên hết và trước hết.
Trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, xã hội lấy con người làm trung tâm đòi hỏi trước hết: "Mỗi đảng viên là cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng". Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ, đảng viên có đạo đức cách mạng là những người có văn hoá; phải xung phong gương mẫu làm trước thiên hạ và phải hưởng bổng lộc sau thiên hạ; cái gì lợi cho Đảng, cho dân thì khó mấy cũng làm, cái gì hại đến Đảng, đến dân thì kiên quyết chống lại.
Là người đầy tớ trung thành của nhân dân trong một xã hội nhân đạo thì những người lãnh đạo phải thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ lao động của mình. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ. Dân làm chủ thì chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, uỷ viên này khác là làm gì? Làm đầy tớ. Làm đầy tớ cho nhân dân, chứ không phải làm quan cách mạng"[2]
Thấm nhuần những lời dạy của Người về công tác xây dựng Đảng, trong sự nghiệp đổi mới Đảng ta luôn chú trọng đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ta về cả chính trị, tư tưởng, tổ chức. Đảng ta đã đề ra những quan điểm chỉ đạo hết sức thiết thực và triển khai thực hiện gắn với những cuộc vận động có hiệu quả. Năm 1999, sau khi có nghị quyết TW 6 lần 2, khoá VIII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, Bộ Chính trị khoá VIII đã ra quyết định thành lập Tiểu ban Trung ương 6(2) với nhiệm vụ tham mưu cho Bộ Chính trị và Ban chấp hành Trung ương chỉ đạo, theo dõi cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đến ngày 4/1/2002, Bộ chính trị khoá IX ra quyết định thành lập Ban chỉ đạo thực hiện nghị quyết Trung ương 6(2) với nhiệm vụ giúp Bộ chính trị, Ban Bí thư Trung ương đôn đốc, theo dõi việc thực hiện kết luận tại Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương khoá IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết trung ương 6(2) khoá VIII, mà trọng tâm là đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, chống suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức trong Đảng và trong xã hội. Qua 7 năm hoạt động, Ban chỉ đạo thực hiện nghị quyết Trung ương 6(2) đã hoàn thành nhiệm vụ được giao, góp phần đáng kể vào những thành tựu đạt được trong cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.
Kết quả là Đảng ta ngày càng vững vàng về chính trị, tư tưởng, trong sạch, vững mạnh tổ chức. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ngày càng được nâng cao, đáp ứng với yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng. Nội bộ Đảng ngày càng đoàn kết, dân chủ, trong sạch. Tình trạng tham ô, tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên ngày càng được đẩy lùi. Cán bộ, đảng viên ngày càng thuấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thấm nhuần đạo đức cách mạng và có ý thức tự giác trong việc học tập tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Đảng và Nhà nước Việt Nam đang quyết tâm đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng. Đây là một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, để đưa nước ta sớm thoát khỏi tình trạng nước nghèo trước năm 2010 như nghị quyết Đại hội đã vạch ra.
Sau gần 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta, nhân dân ta đã giành được những thắng lợi hết sức to lớn. Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta, nhân dân ta đã tiến hành công cuộc đổi mới thắng lợi về nhiều mặt: Hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh, dân chủ và làm việc có hiệu quả, hiệu lực; kinh tế phát triển nhanh và bền vững, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao; nền văn hoá được xây dựng tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Ánh sáng của các tư tưởng nhân văn cao cả trong Di chúc đang tiếp tục soi sáng các mục tiêu, những bước đường của nhân dân ta đi đến dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Vũ Bá Hùng @ 16:21 19/09/2009
Số lượt xem: 2365
- Tư tưởng Hồ chí Minh về giáo dục và rèn luyện thanh niên (03/09/09)
- 40 năm thực hiện Di chúc của Hồ Chí Minh về nội dung thanh niên và công tác thanh niên (24/08/09)
- Tiếp tục thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới (24/08/09)
- BỒI DƯỠNG THẾ HỆ CÁCH MẠNG CHO ĐỜI SAU (15/05/09)
- ĐOÀN TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI: VÂNG LỜI BÁC DẠY (08/04/09)
Ý kiến mới